Thứ Ba, ngày 28 tháng 9 năm 2010

Ghép tạng đối mặt với khan hiếm nguồn cung


Một số bệnh viện lớn trong nước đang cố gắng đưa ghép thận trở thành thường quy và chuẩn bị quy trình ghép tạng khó nhất: ghép tim. Hàng nghìn bệnh nhân đang chờ ghép tạng trong mỏi mòn nhưng nguồn tạng cho vẫn quá khan hiếm. Tại Hội thảo tư vấn khoa học công nghệ lấy, ghép bộ phận cơ thể người vừa diễn ra tại Hà Nội, các chuyên gia cho rằng truyền thông sâu rộng tới cộng đồng về hiến tạng là một trong những yêu cầu hàng đầu để có thể xây dựng ngân hàng tạng.
Mở ra hy vọng về nguồn tạng từ người cho chết não
So với thế giới, ghép tạng ở Việt Nam đi sau nửa thế kỷ, còn với Thái Lan, chúng ta đi sau họ 20 năm. Năm 2007, Luật Hiến ghép tạng được ban hành đã thắp lên nhiều hy vọng cho người bệnh được cứu sống, đồng thời cũng là cơ sở pháp lý quan trọng cho kỹ thuật ghép tạng phát triển ở Việt Nam. Song, nỗ lực có được nguồn tạng từ người cho chết não quá khó khăn, những người làm chuyên môn như đang đơn độc trong hành trình tìm nguồn tạng cho người bệnh.
Theo PGS.TS. Lê Trung Hải - Phó giám đốc Bệnh viện 103, hiện tại nước ta có tới vài nghìn người chờ ghép tạng nhưng không thể thực hiện được vì nguồn tạng quá khan hiếm. Mặc dù đã có vài trăm ca ghép tạng thành công tại Việt Nam nhưng đến nay nguồn tạng để ghép vẫn là từ người cho còn sống. Họ là người thân có quan hệ huyết thống, là bạn bè thân thiết, là vợ chồng và phải chứng minh được sự cho tạng của họ là tình nguyện. Nhưng ghép tạng là một kỹ thuật cao trong y học, đòi hỏi nhiều hòa hợp về sinh hóa, kể cả khi có người nhà đồng ý cho tạng nhưng không hòa hợp những yêu cầu sinh hóa thì cũng không thể thực hiện được.
Sau ca ghép thận đầu tiên từ người cho chết não có hoàn cảnh khá đặc biệt tại Bệnh viện Chợ Rẫy, mới đây, Bệnh viện Việt Đức cũng thực hiện thành công 2 ca ghép thận đầu tiên từ người cho chết não cho 2 bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối. Những kết quả này đang mở ra hy vọng về nguồn tạng từ người cho chết não.

 Ghép gan tại Bệnh viện Nhi đồng 2.
Đã sẵn sàng cho ghép tim
Theo GS.TS. Phạm Gia Khánh, Chủ nhiệm Hội đồng Khoa học công nghệ - Bộ Y tế, dù đi sau thế giới nhiều năm, song hiện tại Việt Nam đã chuẩn bị đầy đủ các điều kiện kỹ thuật, con người, cơ sở vật chất... sẵn sàng cho ghép tim trên người lấy từ bệnh nhân chết não. GS.TS. Đỗ Kim Sơn, nguyên Giám đốc Bệnh viện Việt Đức cũng cho rằng, hiện tại đã đến thời điểm chín muồi để thực hiện ghép tim, thành công này sẽ trở thành một mũi nhọn trong điều trị bằng kỹ thuật cao.
Tuy nhiên các nhà chuyên môn vẫn đang loay hoay đi tìm nguồn tạng, đặc biệt là người cho tim. PGS.TS. Nguyễn Tiến Quyết - Giám đốc Bệnh viện Việt Đức cho hay, khó khăn cơ bản nhất là thiếu trầm trọng người cho tạng nói chung và người cho tim nói riêng. GS.TS. Nguyễn Lân Việt - Viện trưởng Viện tim mạch Việt Nam cho biết, người bệnh có nhu cầu ghép tim rất nhiều, do đó phát triển kỹ thuật ghép tim là nhu cầu cần thiết. Song ghép tim không giống như ghép các tạng khác (ghép gan, thận người cho có thể là người sống), người cho tim phải là người đã chết não không thể cứu được. Theo GS.TS. Nguyễn Thanh Liêm, ở Mỹ, người ta sử dụng cụm từ "người cho là người chết" vì nếu dùng từ "người chết mất não" sẽ bị người nhà bệnh nhân hiểu là chưa chết hẳn, cần cứu chữa nên khó được chấp nhận cho tạng.

Các chuyên gia ghép tạng cho rằng nguồn tạng từ người cho chết não là một nguồn phong phú nhưng chưa được hiểu biết rộng rãi trong cộng đồng do quan niệm người phương Đông nói chung về cái chết còn rất nặng nề. Nhìn nhận về vấn đề này, GS. Francis L. Delmonic - Bộ môn Ngoại khoa Trường Đại học Y Harvard, Giám đốc y tế Ngân hàng tạng New England, Cố vấn Hội ghép tạng của Tổ chức Y tế thế giới - cho rằng cần phải phát triển nguồn tạng từ người cho chết não. Bởi hàng triệu người chết với các tạng còn chức năng sẽ cứu sống được nhiều người bệnh đang trong danh sách chờ được ghép tạng. Thành công này của y học và may mắn của người bệnh phụ thuộc rất nhiều vào luật pháp và giáo dục. Theo GS. Delmonic, các bác sĩ Việt Nam đủ trình độ để thực hiện những ca ghép tạng khó nhưng hạn chế là nguồn tạng khan hiếm. Thực trạng này được giải quyết chắc chắn sẽ trải qua một quá trình và truyền thông phải đóng vai trò quan trọng tác động vào nhận thức của cộng đồng.  
        PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Tiến - Thứ trưởng Bộ Y tế cho biết, lãnh đạo Bộ đồng thuận với nhận định của các chuyên gia ghép tạng về thời điểm, điều kiện để triển khai ghép tim trên người từ bệnh nhân chết não, ca ghép tim đầu tiên có thể được triển khai trong năm 2010. Thứ trưởng cũng nhấn mạnh nhiệm vụ của truyền thông đến cộng đồng về hiến ghép tạng cần được tăng cường sâu rộng, nêu lên được ý nghĩa nhân văn của việc tự nguyện hiến mô, tạng phục vụ nghiên cứu y học và điều trị bệnh, trong đó báo Sức khỏe & Đời sống sẽ là một kênh thông tin quan trọng về vấn đề này.
Truyền thông tốt sẽ làm thay đổi quan niệm về hiến tạng

Các loài chim quý hiếm ở Việt Nam đang bị đe doạ

Hầu hết các loài chim sống tại khu bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam đang bị đe doạ bởi các tay săn trộm và áp lực của một nước đang phát triển. Đó là lời cảnh báo gần đây nhất của các nhà nghiên cứu môi trường thuộc Tổ chức quốc tế về bảo vệ chim trên thế giới.
Các nhà nghiên cứu cho rằng mối đe doạ chủ yếu đến từ các tay săn trộm trong các khu bảo tồn. Bên cạnh đó là những sức ép về việc mở rộng diện tích đất nông nghiệp ở Việt Nam. Tuy nhiên, Tổ chức này cũng dành lời khen ngợi cho những cố gắng của Chính phủ Việt Nam nhằm bảo vệ các loài động vật quý hiếm.
Trong các báo cáo của mình, tổ chức này đã cho rằng có tới 56 trên 63 (chiếm khoảng 88%) khu bảo tồn thiên nhiên quan trọng nhất của Việt Nam, nơi sinh sống của các loài chim và là những nơi có được sự đa dạng sinh học bậc nhất, đang bị đe doạ bởi sự săn bắn trái phép. Đó mới chỉ là một phần nguyên nhân. Nguyên nhân thứ hai chính là sức ép từ việc mở rộng diện tích đất canh tác nông nghiệp. Chúng làm ảnh hưởng đến khoảng 43 trên 63 khu bảo tồn. Đặc biệt là những vùng đầm lầy, khu vực ngập mặn ven biển nằm trong vùng châu thổ sông Mekong.
Ông Richard Grimmet, Trưởng chi nhánh của tổ chức này ở châu Á, nói: ""Các động vật hoang dã như gấu, nhóm động vật linh trưởng và một số loài bò sát bị đánh bắt, rất nhiều. Hiện nay các cá thể này chỉ còn tồn tại với một con số ít ỏi. Điều này có nhiều nguyên nhân. Tuy nhiên, nó có lẽ bắt nguồn từ thời điểm mà Việt Nam mở cửa biên giới của mình với các nước khu vực. Bên cạnh đó, những dự án mở rộng đường nông thôn đến với các vùng sâu, vùng xa cũng ảnh hưởng không nhỏ"".
Ông Grimmet nhấn mạnh: ""Tuy nhiên, tất cả cũng chưa đến nỗi quá tối tăm. Phải nói rằng Chính phủ Việt Nam đã có những cố gắng không biết mệt mỏi nhằm cứu vãn các khu bảo tồn. Theo chúng tôi được biết, hiện đã có hơn 6 khu bảo tồn quý hiếm đã được Chính phủ Việt Nam xây dựng đề án bảo vệ"".
Cac loai chim quy hiem o Viet Nam dang bi de doa
Các động vật quý hiếm bị săn bắn bừa bãi.
Tổ chức bảo vệ chim thế giới cũng cho rằng việc phát triển bền vững các khu bảo tồn, giáo dục ý thức người dân sống quanh vùng để họ cùng bảo vệ và khai thác hợp lý sẽ là những kế hoạch mang tính lâu dài và bền vững nhất cho môi trường Việt Nam. Các nghiên cứu trên ở Việt Nam được sự tài trợ của Chính phủ Đan Mạch. Đại sứ quán Đan Mạch tại Việt Nam, Ngài Bjarne Sorensen, nói: ""Trong những năm gần đây, Việt Nam đã thu hút được sự chú ý của thế giới thông qua những khám phá rất có ý nghĩa về các loài chim và động vật có vú khác nhau. Tuy nhiên, cũng giống như bao quốc gia đang phát triển khác, Việt Nam đang phải đối mặt với sự gia tăng dân số, với việc mở rộng dần diện tích đất canh tác nông nghiệp. Chính điều này đang đe doạ hệ sinh thái giàu có của Việt Nam"".
Cac loai chim quy hiem o Viet Nam dang bi de doa
Chim bói cá cánh vàng.
Trong những khảo sát mới đây của các nhà nghiên cứu môi trường, có ba cá thể chim mới đã được phát hiện tại Việt Nam. Đó là chim bói cá cánh vàng, chim bói cá - tai hạt dẻ (chùm lông nằm bên phía tai của chim có màu hạt dẻ) và một loài chim có chỏm lông trên đỉnh đầu giống như chiếc mũ miện màu đen. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng là một trong những nơi hiếm hoi trên thế giới còn tồn tại một vài cá thể tê giác cự kỳ quý hiếm. Chúng đang bị đe doạ tuyệt chủng trên khắp toàn cầu. Một số động vật quý hiếm cũng đã được tìm thấy ở khu vực Đông Nam Á này. Đó là loài hươu nhỏ nhất thế giới được tìm thấy ở Burma; loài thỏ có bộ lông kẻ sọc được tìm thấy ở vùng núi giáp ranh Việt Nam, Lào. Đặc biệt, có một số loài lợn rừng quý hiếm và một số động vật có vú như sao la, linh dương cũng được tìm thấy trong khu vực này.

Danh mục sách đỏ động vật Việt Nam

Danh mục sách đỏ động vật Việt Nam bao gồm các loài động vật có trong Sách đỏ Việt Nam dưới các mức độ đe dọa khác nhau. Trong số đó là các loài động vật chỉ tìm thấy duy nhất trên lãnh thổ Việt Nam, không tìm thấy ở nơi khác trên thế giới như: Gà lôi lam đuôi trắng (Lophura hatinhensis), Gà lôi lam mào trắng (Lophura edwardsi), Gà tiền mặt đỏ (Polyplectron germaini), Gà trĩ sao (Rheinardia ocellata), Gà so cổ hung (Arborophila davidi), Voọc mũi hếch Bắc Bộ (Rhinopithecus avunculus), Voọc ngũ sắc (Trachipithecus phayrei) và các loài lần đầu phát hiện trên thế giới tại Việt Nam, hiện tại chưa thấy hoặc ít thấy chúng ở các nước khác: Mang Trường Sơn (Muntiacus truongsonensis), Mang lớn, Sao la (Pseudoryx nghetinhensis), Bò rừng xoăn.
Tên thông dụng↓Tên khoa học↓Mức độ đe dọa↓
Ác làPica pica sericera gould, 1845E
Báo gấmPardofelis nebulosa (Griffth, 1821)V
Báo hoa maiPanthera pardus (Linnaeus, 1758)E
Báo lửaCatopuma temminckii (Vigors et Horsfield, 1827 )E
Bào ngư hình bầu dụcHaliotis ovina Gmelin, 1791V
Bào ngư hình vành taiHaliotis asinina Linnaeus, 1758V
Bồ câu nâuColumba punicea (Blyth, 1842)T
Bồ câu NicobaCaloenas nicobarica nicobarica (Linnaeus, 1758)T
Bọ láPhyllium succiforlium LinnaeusE
Bọ ngựa thông thườngManti religiosa LinnaeusV
Bồ nông chân xámPelecanus philippensis Gmelin, 1789R
Bò rừngBos javanicus S’Alton, 1823V
Bò tótBos gaurus Smith, 1827E
Bò xámBos sauveli Urbain, 1937E
Bói cá lớnCeryle lugubris guttulata Stejneger, 1892T
Bồng chanh rừngAlcedo hercules Laubmann, 1917T
Bướm đuôi dài xanh lá chuốiArgemo maenas Donbleday 1847R
Bướm khếAttacus atlas Linnaeus 1758R
Bướm phượng cánh đuôi nheoLeptocircu curius (Fabricius)T
Bướm phượng cánh kiếmPathysa antiphates (Cramer)E
Bướm phượng cánh sau vàngTroides helena hephaestus FldrE
Cá anh vũSemilabeo notabilis Peters, 1880V
Cá Atêlêôp Nhật BảnAteleopus japonicus Bleeker, 1842R
Cá bám đá liềnSinogastromyzon tonkinensis Pellegrin et Chevey, 1935R
Cá bò râuPsilocephalus barbatus (Gray, 1836)R
Cá bò xanh hoa đỏOxymonocanthus longirostris (Bloch et Schneider, 1801)R
Cá bống bớpBostrichthys sinenesis Lacepede, 1802T
Cá cháo biểnElops saurus Linaeus, 1866R
Cá cháo lớnMegalops cyprinoides (Broussonet, 1782)R
Cá chào mào gaiSatyrichchthys sieffeli (Kaup, 1859)R
Cá cháyHilsa reevesii (Richardson, 1846)V
Cá chày đấtSpinibarbus caldwelli (Nichols, 1925)V
Cá chép gốcProcypris merus Lin,1933E
Cá chìa vôi không vâySolenognathus hardwickii Gray, 1830T
Cá chìa vôi mõm nhọnSyngnathus acus Linnaeus, 1758V
Cá chìa vôi mõm răng cưaTrachyrhamphus serratus (Temminck et Schlegel, 1846)V
Cá chiênBagarius bagarius (Hamilton et Buchanan, 1822)V
Cá chình hoaAnguilla marmorata Quoy et Gaimrd, 1824R
Cá chình NhậtAnguilla japonica Temminck et. Schlegel, 1846E
Cá cờ mặt trăngVelifer hypselopterus Bleeker, 1879R
Cá cóc Tam ĐảoParamesotriton deloustali (Bourret, 1934)E
Cá còmNotopterus chitala (Hamilton – Buchanan, 1822)T
Cà cuốngLethocerus indicus (Lepetetier et Serville, 1775)R
Cá dao cạoSolenostomus paradoxus (Pallas, 1870)R
Cá đao răng ngựaPristis cuspidatus Latham, 1794R
Cá đao răng nhỏPristis microdon Latham, 1794R
Cá dây lưng gùZen cypho Fowler, 1934R
Cá dây Nhật BảnZeus japonicus Cuvier et Valenciennes, 1835R
Cá đuối điện Bắc bộNarcine tonkinensis Nguyên, 1970R
Cá duồng bayCirrhinus microlepis Sauvage, 1878T
Cá duồng xanhCosmocheilusharmandi (Sauvage, 1878)T
Cá ét mọiMorulius chrysophekadion (Bleeker, 1850)T
Cá giống mõm trònRhina ancylostoma Bloch et Schneider, 1801T
Cá hôCatlocarpiosiamensis Bouleger, 1898T
Cá hoảLabeo tonkinensis (Pellegrin et Chevey,1936)V
Cá hường sôngDatnioies quadrifasciatus (Sevastianov, 1809)R
Cá kimSchindlerria praematura (Schindler, 1930)R
Cá lăngHemibagrus elongatus (Gubther, 1864)V
Cá lợ lớnCyrinus muntitaentiata (Pellgrin et Chevey, 1936)E
Cá lóc bôngOphiccephalus micropeltes (Cuvier et Valencienes, 1931)T
Cá lưỡi dongAntennarius malas Bleeker, 1857R
Cá măng giảLuciocyprinus langsoni (Vaillant, 1904)V
Cá măng rổTaxotes chatareus (Haminton)T
Cá măng sữaChanos chanos (Forskal, 1775)T
Cá mập ăn thịt ngườiCarcharodon carcharias (Linnaeus,1758)T
Cá mặt trăngMola mola (Linnaeus, 1758)R
Cá mặt trăng đuôi nhọnMasturus lanceolatus (Lienard, 1840)T
Cá mayGyrinocheilus aymonieri (Tirant, 1883)R
Cá mòi chấmClupanodon punctatus (Temminck et Schleget, 1846)V
Cá mòi cờClupanodon thrissa (Linnaeus, 1758)V
Cá mòi đườngAlbula vulpes ( Linnaeus, 1758)R
Cá mòi không răngAnodontostoma chacunda ( Hamilton, 1822)E
Cá mòi mõm trònNematalosa nasus (Bloch, 1795)E
Cá mơnScleropages formusus (Muller – Schlegel, 1844)E
Cá nàng tiênDugong Dugon (Mullr, 1776)E
Cá ngạnhCranoglanis sinensis (Peters, 1880)V
Cá ngựaTorbrevifilis (Peters, 1880)V
Cá ngựa ba chấmHipocampus trimaculatus Leach, 1814V
Cá ngựa gaiHipocampus histrix Kaup, 1856V
Cá ngựa KenlôHippocampus kelloggi Jordan et Snyder, 1902V
Cá ngựa lớnHippocamus kuda Bleeker, 1852V
Cá ngựa NhậtHipocampus japonicus Kaup, 1856R
Cá ngựa xámTortambroides (Bleeker, 1854)V
Cá nhám đuôi dàiAlopias pelagicus Nakamura, 1935R
Cá nhám lông nhungCephaloscyllium umbratile Jordan et Fowler,1903R
Cá nhám nâuEtmopterus lucifer Jordan et Snyder, 1902R
Cá nhám nhu mìStegostoma facsciatum (Hermann, 1973)R
Cá nhám voiRhincodon typus (Smith,1829)R
Cá pạoLabeo graffeuilli (Pellegrin et Chevey,1936)V
Cá rầm xanhAltigena lemassoni (Pelleg rin et Chevey, 1936)V
Cá sấu hoa càCrocodylus porosus Schneider, 1801E
Cá sấu XiêmCrocodylus siamensis Schneider, 1801E
Cá sỉnh gaiOnychostoma laticeps Gunther,1986V
Cá sócProbarbus jullieni Sauvage, 1880T
Cá toàn đầuChimaera phantasma Jordan. Et Snyder, 1900E
Cá tra dầuPangasianodon gigas Chevey, 1930R
Cánh kiến đỏKerria lacca (Kerr, 1782)V
CáoVulpes vulpes (Linnaeus, 1758)E
Cầu gai đáHeterocentrotus mammillatus (Linnaeus, 1758)V
Chồn bayCynocephalus variegatus (Audebert, 1799)R
Cầy gấmPrionodon pardicolor Hodgron, 1841R
Cầy giông sọcViverra megaspila Blyth, 1862E
Cầy giông Tây NguyênViverra tainguyensis Sokotov, Rozhnov, Pham Trong Anh, 1997V
Cầy mựcArictis binturong (Raffles, 1821)V
Cầy rái cáCynogale lowei Pocock, 1933bE
Cầy tai trắngArctogalidia trivirgata (Gray, 1832)R
Cầy vằn bắcHemigulus owstoni (Thomas, 1912)V
Chân bơiHeliopair personata (Gray, 1849)R
Cheo cheo Nam DươngTragulus javanicus (Osbeck, 1765)V
Cheo cheo NapuTragulus napu (Cuvier, 1822)E
Chim điên bụng trắngSula leucogaster poltus (Forster, 1844)T
Chim yến hàngCollocalia fuciphaga germaini Oustalet, 1871T
Chim yến núiCollocalia brevirostris innominata Hume, 1873R
Chó rừngCanis aureus Linnaeus, 1758E
Choắt chân màng lớnLimnodromus semipalmatus (Blyth, 1848)R
Chuột mùTyphlomys cinereus Milne – Edward, 1877R
Chuột nhắt câyVandeleuria oleracea (Bennett, 1832)R
Cò Á châuXenorhynchus asiaticus (Latham, 1790)E
Cò lạo Ấn ĐộMycteria leucocephala (Pennant, 1769)R
Cò lạo xámMycteria cinerea (Raffles, 1882)V
Cò nhạnAnastomus oscitans (Boddaert, 1783)R
Cò quăm cánh xanhPseudibis davisoni (Hume, 1875)V
Cò quăm lớnPsendibis gigantea (Oustalet, 1877)E
Cò thìaPlatalea mino Temmink et Schlegel, 1849R
Cốc biển bụng trắngFregata andrewsi Mathews, 1914V
Cốc đếPhalacrocorax carbo sinensis (Blumenbach, 1789)R
Cóc gai mắtMegophrys Longipes (Boulenger, 1885)T
Cóc mày gai núiMegophrys palpebralespinosa, Bourret, 1937R
Cóc mày phêMegophrys feae (Boulenger, 1887)R
Cóc rừngBufo galeatus Gunther, 1864R
Cóc tíaBombina maxima (Boulenger, 1905)V
CôngPavo muticus imperator Delacour, 1949E
Cu li lớnNycticebus coucang (Boddaert, 1785)V
Cu li nhỏNycticebus pygmaeus Bonhote, 1907V
Cú lợn rừngPhodilus badius saturatus Robinson, 1927T
Cu xanh SeimunTreron seinundi modestus (Delacour, 1926)R
Cua núi An namTiwaripotamon annamense (Balls, 1914)R
Cua núi Cúc PhươngPotamiscus cuphuongensis Dang, 1975R
Cua núi Kim BôiRanguna (Ranguna) kimboiensis Dang, 1975R
Cua núi mai nhẵnOrientalia glabra (Dang, 1967)R
Cua núi mai rápPotamiscus tannanti (Rathbun, 1904)R
Cua núi Phúc SơnRanguna (Runguna) fruhstorferi (Balss, 1914)R
Đẹn đuôi gaiAipysurus eydouxii (Gray, 1849)V
Đẹn mỏEnhydrina schistosa (Daudin, 1803)V
Đẹn vảy bụng không đềuThalassophina viperina Schimidt, 1852V
Dơi cánh lôngHarpiocephalus harpia (Temminck, 1840)R
Dơi chó tai ngắnCynopterus brachyotis (Muller, 1838)R
Dơi IôIa io Thomas,1902R
Dơi lá quạtRhinolophus paradoxolophus (Bourret, 1951)R
Dơi lá Sa đenRhinolophus borneensis Peters, 1861R
Đồi mồiEretmochelys imbricata (Linnaeus, 1766)E
Đồi mồi dứaChelonia mydas (Linnaeus, 1758)E
Dơi mũi NêquamHipposideros nequam Anderseen, 1918R
Dơi tai SiligôMyotis siligorensis (Horsfield,1855)R
Dơi thuỳ FritCoelops frithii Blyth, 1848R
Dơi thuỳ tai toParacoelops megalotis Dorst, 1947R
Dù dì phương đôngKetupa zeylonensis orientalis Delacour, 1926T
Đuôi cụt bụng đỏPitta nympha Temminck et Schlegel, 1850R
Đuôi cụt bụng vằnPitta ellioti Oustalet, 1784T
Đuôi cụt đầu đỏPitta cyanea willoughbyi Delacour, 1926R
Đuôi cụt nâuPitta phayrei obscura Delacour, 1927R
Ếch gaiRana Spinosa David, 1875T
Ếch giunIchthyophis glutinosus (linnaeus, 1754)V
Ếch vạchRana microlineata Bourret, 1937T
Ếch xanhRana andersoni Boulenger, 1882T
Gà lôi hông tíaLophura diardi (Bonnaparte, 1858)T
Gà lôi lam đuôi trắngLophura hatinhensis Vo Quy et Do Ngoc Quang, 1975E
Gà lôi lam mào đenLophura imperialis (Delacour et Jabouille, 1924)E
Gà lôi lam mào trắngLophura edwardsi (Oustalet, 1896)E
Gà lôi tíaTragopan temminkinensis Delacour et jabouille, 1930R
Gà lôi trắngLophura nycthemera (Linnaeus, 1758)T
Gà so cổ hungArborophila davidi Delacour, 1927E
Gà tiền mặt đỏPolyplectron germaini Elliot, 1866T
Gấu chóUrsus malayanus Raffles, 1821E
Gấu ngựaUrsus thibetanus G. Cuvier, 1823E
Già đẫy JavaLeptoptilos javanicus (Horsfield, 1821)R
Già đẫy lớnLeptoptilos dubius (Gmelin, 1789)E
GiảiPelochelys bibronii (Owen, 1853)V
Giun lạPheretima anomala Michaelsel, 1907T
Giun xanhPheretima perelae Thai, 1982T
Gõ kiến xanh đầu đỏPicus rabieri (Oustalet, 1898)T
Hạc cổ trắngCiconia episcopus (Bodaert, 1783)R
Hải sâm lựuThelenota ananas (Jaeger, 1833)E
Hải sâm mítActinopyga echinites (Jaeger, 1883)V
Hải sâm mít hoaActinopyga mauritiana (Quoy et Gaimard, 1883)V
Hải sâm vúMicrothele nobilis (Selenka, 1876)E
Heo vòiTapirus indicus Desmarest, 1819E
HổPanthera tigris (Linnaeus, 1758)E
Hoặn lớnRhacophorus nigropalmatus feae Boulenger, 1893T
Hoẵng Nam bộMuntiacus muntjak annamensis, Kloss 1928V
Hồng hoàngBuceros bicornis Linnaeus, 1758T
Hù làoStrix leptogrammica laotiana Delacour, 1926R
Hù lưng nâuStrix leptogrammica ticehursti Delacour, 1930R
Hươu saoCervus nippon Temminck, 1838V
Hươu vàngCervus porcinus Zimmermann, 1777E
Hươu xạMoschus berezovxki Flerov, 1929E
Khách đuôi cờTemnurus temnurus Temminck, 1825T
Khỉ đuôi lợnMacaca nemestrina (Linnaeus, 1766)V
Khỉ mặt đỏMacaca arctoides (Geoffroy, 1831)V
Khỉ mốcMacaca assamensis (M’Clelland, 1839)V
Khướu đầu đenGarrulax milleti Robinson et Klos, 1919R
Khướu đầu đen má xámGarrulax yersini (Robinson et Kloss, 1919)R
Khướu đầu xámGarrulax vassali (Grant, 1906)T
Khướu đuôi đỏGarrulax formosus greenwayi Delacour et Jabouille, 1930R
Khướu mỏ dàiJabouillea danjoui (Robinson et Klos, 1919)T
Khướu mỏ dẹt lưng đenParadoxornis davidianus tonkinensis (Delacour, 1927)T
Khướu mỏ dẹt toParadoxornis ruficeps magnirostris (Delacour, 1927)T
Khướu ngực đốmGarrulax merulinusR
Khướu vẩyGarrulax squamatus (Gould, 1835 )R
Khướu xámGarrulax maesi maesi (Oustalet, 1890)T
Kỳ đà hoaVaranus salvator (Laurenti, 1768)V
Kỳ đà vânVaranus bengalensis nebulosus (Gray, 1831)V
Le khoang cổNettapus coromandelianus coromandelianus (Gmelin, 1788)T
Mang lớnMegamuntiacus vuquangensis Do Tuoc, Vu Van Dung, Shanthini Dawson, P. Arctander và John mackinnon, 1994V
Mèo cáPrionailurus viverrinus (Bennett, 1833)R
Mèo gấmPardofelis marmorata (Martin, 1837)V
Mèo riFelis chaus Guldenstaedt, 1776E
Mi LangbianCrocias langbianis (Goldenstolpe, 1939)E
Mỏ rộng đenCarydon sumatranus khmerensis Deignan, 1947R
Mỏ rộng xanhPsarisomus dalhousiae dalhousiae (Jameson, 1835)T
Mỏ rộng xồmCalyptomena viridis continentis Robinson et Klooss, 1923R
Mòng bể mỏ đenLarus saundersi, 1871R
Nai cà tôngCervus eldi M’Clelland, 1842E
Ngan cánh trắngCarina scutulata (S. Muller, 1839)V
Nhàn đầu xámAnous stolidus pileatus (Scopoli, 1786)T
Nhàn màoSterna bergii cristata Stephens, 1826E
Nhông cát GuttaLeiolepis guttata Curier, 1829T
Niệc cổ hungAceros nipalensis (Hodgson, 1829)E
Niệc đầu trắngBerennicornis comatus (Raffles, 1822)E
Niệc mỏ vằnRhyticeros undulatus ticehursti (Deignan, 1914)T
Niệc nâuPtilolaemus tickelli indochinensis (Delacour et Jabouille, 1927)T
Ô rô vẩyAcanthosaura lepidogaster (Cuvier, 1829)T
Ô tácEupodotis bengalensis blandini Delacour, 1928V
Ốc anh vũNautilus pompilus Linnaeus, 1758E
Ốc bản đồCypraea mappa Linnaeus, 1758T
Ốc đụn cáiTectus niloticus (Linnaeus, 1767)E
Ốc đụn đựcTrochus pyramis (Born, 1778)E
Ốc heoCypraea testudinaria (Linnaeus, 1758)T
Ốc kim khôiCassis cornata (Linnaeus, 1758)V
Ốc kim khôi đỏCypraecassis rufa Linnaeus, 1758E
Ốc sứ CuraCypraca scurra (Gmelin, 1791)R
Ốc sứ HitiCypraea histrio Gmelin, 1791R
Ốc sứ Lắc têProcalpur lacteus (Lamarck, 1810)R
Ốc sứ mắt trĩCypraea argus Linnaeus, 1758R
Ốc sứ PadiCypraea spadicea Swainson, 1823R
Ốc sứ trắng nhỏOvula costellata (Lamarck, 1810)R
Ốc sứ Trung HoaCyraca chinensis (Gmelin, 1791)T
Ốc sứ TuđuCypraea turdus Lamarck, 1810R
Ốc sứ VeruCalpurnus verrucosus (Linnaeus, 1758)T
Ốc tù vàCharonia tritonis (Linnaeus, 1758)V
Ốc vặn hình cônStenomelania reevei (Barot, 1874)V
Ốc vặn hình thápAntimelania swinhoei (Adams, 1870)V
Ốc vặn vệt nâuSulcospira proteus (Bavay et Dautzenberg, 1910)R
Ốc xà cừTurbo marmoratus Linnaeus, 1758E
Ốc xoắn váchEpitonium scalare (Linnaeus, 1758)R
Phướn đấtCarpococcyx renauldi (Oustalet, 1896)T
Quạ khoangCorvus torquatus Lesson 1831E
Rái cá lông mũiLutra sumatrana (Gray, 1865)V
Rái cá lông mượtLutrogale perspicillata (Geoffory, 1826)V
Rái cá thườngLutra lutra (Linnaues, 1758)V
Rái cá vuốt béAonyx cinerea (Illiger, 1815)V
Rắn cạp nongBungarus fasciatus (Schneider, 1801)T
Rắn hổ mangNaja naja (Linnaeus, 1758)T
Rắn hổ mang chúaOphiophagus hannah (Cantor, 1836)E
Rắn hổ trâuPtyas mucosus (Linnaeus, 1758)V
Rắn laiGonysoma oxycephalum (Boie, 1827)T
Rắn lục đầu đenAzemiops feae Boulenger, 1888R
Rắn lục mũi hếchDeinaglistrodon acutus (Gunther, 1864)R
Rắn lục núiTrimeresurus monticola Gunther, 1864R
Rắn lục sừngTrimeresurus cornutus Smith, 1930R
Rắn ráoPtyas korros (Schlegel, 1837)T
Rắn rào răng chóBoiga cynodon (Boie, 1827)T
Rắn sọc đốm đỏElaphe porphyracea (Cantor, 1839)T
Rắn sọc khoanhElaphe moellendorffii (Boettger, 1886)T
Rắn sọc xanhElaphe prasina (Blyth, 1854)T
Rắn xe điếu nâuAchalinus rufescens Boulenger, 1888R
Rắn xe điếu xámAchalinus spinalis Peters, 1869R
Rồng đấtPhysignathus cocincinus Curier, 1829V
Rùa daDermochelys coriacea (Linnaeus, 1766)E
Rùa đất lớnGeoemyda grandis Gray, 1860V
Rùa đầu toPlatysternum megacephalum (Gray, 1831)R
Rùa hộp ba vạchCuora trifasciata (Bell, 1825)E
Rùa hộp lưng đenCuora amboinensis (Daudin, 1802)V
Rùa hộp trán vàngCistoclemmys galbinifrons (Bourret, 1939)V
Rùa núi vàngIndotestudo elongata (Blyth, 1853)V
Rùa núi viềnManoruia impressa (Gunther, 1882 )V
Rùa răngHieremys annandalei (Boulenger, 1903)V
Sả hungHalcyon coromando coromando (Latham, 1790)R
Sả mỏ rộngPelargopsis capensis burmanica (Sharp, 1870)T
Sam đuôi tam giácTachypleus tridentatus LeachT
San hô đỏ ÊlatiCorallium elatius S. Ridl, 1882V
San hô đỏ Kô-noiCorallium konojci Kishinouye, 1903T
San hô đỏ Nhật BảnCorallium japonicus Kishinouye, 1903V
San hô trúcIsis hipputis Linnaeus, 1758R
Sao laPseudoryx nghetinhesis Vu Van Dung, Peter Arlander, John Mackinnon, Do Tuoc, Nguyen Ngoc Chinh, Pham Mong Giao, 1993E
Sẻ thông họng vàngCarduelis monguilloti (Delacour, 1927)T
Sếu cổ trụiGrus antigone sharpii Blanfordii, 1929V
Sóc bay đen trắngHylopetes alboniger (Hodgson, 1836)R
Sóc bay lông taiBelomys pearsonii (Gray, 1842)R
Sóc bay nhỏHylopetes phayrei (Blyth, 1859)R
Sóc bay saoPetaurista elegans (Muler, 1839)E
Sóc bay trâuPetaurista petaurita (Pallas, 1766)R
Sóc đen Côn ĐảoRatufa bicolor condorensis Kloss, 1921R
Sóc đỏCallosciurus finlaysoni (Horsfield, 1823)R
Sói đỏCuon alpinus (Pallas, 1811)E
Sơn dươngCapricornis sumatraensis (Bechstein, 1799)V
Tắc kèGekko gecko (Linnaeus 1758)T
Tê giác hai sừngDicerorhinus sumatrensis (Fischer, 1819)E
Tê giác một sừngRhinoceros sondaicus Desmarest, 1822E
Tê têManis pentadactyla Linnaeus, 1758V
Thỏ rừng Trung HoaLepus sinensis Gray, 1832E
Tôm hùm bôngPanulirus ornatus (Pabricius, 1798)V
Tôm hùm đáPanulirus homarus (Linnaeus, 1758)V
Tôm hùm đỏPanulirus longipes (A.M Edwards, 1868)V
Tôm hùm senPanulirus versicolor (Latreille, 1804)V
Trai cánh dầyCristaria herculea (Middendorff, 1848)V
Trai cánh mỏngCristaria bialata (Lea, 1857)V
Trai cóc bầu dụcLamprotula liedtkei (Rolle, 1904)R
Trai cóc dầyGibbosula crassa (Wood, 1815)R
Trai cóc hình láLamprotula blaisei (Dautzenberg et Fischer, 1905)R
Trai cóc hình taiLamprotula leai (Gray, 1857)V
Trai cóc Mẫu SơnContradents semmelincki fultoni (Haas, 1930)R
Trai cóc nhẵnCuneopis (Procuneopsis) demangei Haas, 1929K
Trai cóc trònLamprotula nodulosa (Wood, 1815)R
Trai cóc vuôngProtunio messageri Bavay et Dautzenberg, 1901R
Trai điệpSinohyriopsis cumingii (Len, 1852)V
Trai ngọc môi đenPinctada margaritifera (Linaeus, 1758)T
Trai ngọc môi vàngPinctada maxima (Jameson, 1901)T
Trai SuillaPilsbryoconcha suilla (Martens, 1902)K
Trai tai gấuHippopus hippopus (Linnaeus, 1758)R
Trai tai tượng khổng lồTridacna gigas (Linnaeus, 1758)R
Trai vỏ nâuChamberlainia hainesiana (Lea, 1856)V
Trăn cộcPython curtus Schlegel, 1872E
Trăn đấtPython molurus (Linnaeus, 1758)V
Trăn gấmPython reticulatus (Schneider, 1801)V
Trâu rừngBubalus bubalis (Linnaeus. 1758)E
Trèo cây lưng đenSitta formosa Blyth, 1843T
Trèo cây mỏ vàngSitta solangiae. (Delacour et Jabouille, 1930)T
Trĩ đỏPhasianus colchicus Linnaeus, 1758R
Trĩ saoRheinartia ocellata ocellata (Elliot, 1871)T
Triết bụng trắngMustela nivalis Linnaeus, 1766E
Trùng trục có khíaLanceolaria fruhstorferi (Bavay et Dautzenberg, 1901)R
Vạc hoaGorsachius magnificus (Ogilvie Grant, 1899)R
Vẹm vỏ xanhPerna viridis (Linnaeus, 1758)T
VíchCaretta olivacea (Eschscholtz, 1829)E
Vịt đầu đenAythya baeri (Radde, 1863)R
Vịt mỏ ngọnMergus squamatus Gould, 1864E
VoiElephas maximus Linnaeus, 1758V
Voọc đầu trắngTrachypithecus francoisi poliocephalus (Trouessart, 1911)E
Voọc đen má trắngTrachypithecus francoisi francoisi (Pousargues, 1898)V
Voọc Hà TĩnhTrachypithecus francoisi hatinhensis (Dao, 1970)E
Voọc mông trắngTrachypithecus francoisi delacouri (Osgood, 1932)E
Voọc mũi hếch Bắc BộRhinopithecus avunculus Dollman, 1912E
Voọc ngũ sắcPygathrix nemaeus nigripes (Milne-Edwards, 1871)V
Voọc váPygathrix nemaeus nemaeus (Linnaeus, 1771)E
Voọc xámTrachypithecus phayrei crepusculus (Elliot, 1909)V
Vượn đen bạc máHylobates concolor leucogenis Ogilby, 1840E
Vượn đen tuyềnHylobates concolor concolor (Harlan, 1826)E
Vượn tay trắngHylobates lar (Linnaeus, 1771)E