Thứ Ba, 28 tháng 9, 2010

Becks bị tố ngủ với gái mại dâm cao cấp

Sáu năm sau bê bối của nữ thư ký Rebecca Loos, cặp đôi nổi tiếng lại phải đối mặt với thử thách mới sau khi một gái gọi có tên Irma Nici lên báo tiết lộ chuyện tình với tiền vệ Anh.
Người đẹp Irma Nici hết lời khen ngợi kỹ năng phòng the của Becks. Ảnh: NY.

Nici cho biết, cô và Becks vui vẻ trong một khách sạn ở New York tháng 8/2007, thời gian ngắn sau khi anh chuyển sang Mỹ khoác áo LA Galaxy, và gặp lại nhau một tháng sau đó tại khách sạn Claridge, London. Cô nàng kiếm được 10.000 USD một đêm hết lời khen ngợi kỹ năng phòng the của cựu thủ quân tuyển Anh. Nici khoe rằng, hai người đi lại với nhau 5 lần trong năm 2007.
Sau khi tờ In Touch đăng những lời tiết lộ của gái gọi 26 tuổi, Becks vô cùng tức giận và khẳng định sẽ kiện tạp chí này. "Những thông tin này hoàn toàn sai sự thật và lố bịch. Thật đáng buồn là chúng ta đang sống trong một thế giới mà có vài tờ báo đưa tin sai lệch rồi tin rằng họ sẽ chẳng bị ai sờ đến. Chúng tôi đang tiến hành các thủ tục pháp lý để kiện tạp chí này", đại diện của ngôi sao Anh cho biết.
Vợ chồng Becks cùng các con đi dạo ở công viên hôm cuối tuần. Ảnh: Sun.

Nguồn tin thân thiết với tiền vệ 35 tuổi cũng khẳng định, có một vài chi tiết không chính xác trong câu chuyện của Irma Nici. Người đẹp bốc lửa này nói rằng cô tới thăm Becks tại khách sạn Le Parker Meridien ở Manhattan nhưng tại thời điểm đó, Becks và các đồng đội ở LA Galaxy đang tập trung tại khách sạn Waldorf Astoria.
Năm 2004, cuộc hôn nhân của tiền vệ Anh gặp sóng gió dữ dội sau những lời tiết lộ của nữ thư ký Rebecca Loos. Mặc dù Becks phủ nhận mọi chuyện nhưng bê bối này vẫn khiến gia đình anh lục đục.
Hoàng Trang

Sao sân cỏ ngoài đời thường



Dành thời gian bên vợ con là cách Carrick, Kaka, Mikel Arteta, Chivu hay HLV Mourinho thường làm khi rảnh rỗi. Trong khi đó, một số cầu thủ còn độc thân thích tới các quán rượu gặp gỡ bạn bè.
Vợ chồng Michael Carrick hả hê sau khi cùng nhau đi mua sắm.
Trung vệ Milan, Chivu dắt tay bà xã đi dạo phố. Cặp đôi đẹp của Rumani vừa đón chào thành viên nhí thứ hai và đó là một bé trai.
Đội trưởng Steven Gerrard của Liverpool với gương mặt nhăn nhó thường thấy mỗi khi xuống phố.
Anh chàng Lampard điệu đà rất chăm chút vẻ bề ngoài khi đi ăn tối với bạn bè hoặc đi dạo.
Ông bố Kaka và cậu nhóc Luca có những phút giây thoải mái trên trường đua ngựa.
Henry và cô bạn gái Andrea trên khán đài giải quần vợt Mỹ mở rộng.
Tiền đạo Kun Aguero khoe cậu con trai cưng Benjamin. Cậu nhóc hơn 1 tuổi này còn là cháu ngoại của huyền thoại Maradona.
Chân sút Lukas Podolski thử tập môn quyền anh.
Gerard Pique và cô bạn gái Nuria trao nhau nụ hôn ngọt ngào trong kỳ nghỉ tại Hy Lạp.
Tiền vệ Joe Cole vui vẻ với chiếc iPad vừa mua.
Sergio Ramos lúc nào cũng bóng bẩy và thời trang.

Thứ Hai, 27 tháng 9, 2010

Công nghệ sinh học thế kỷ 21: Cơ hội hay thách thức

Nếu như công nghệ thao tác gen có chức năng chủ yếu là tạo ra các sinh vật mới thì nhược điểm của nó lại là rất khó khăn trong việc nhân bản hàng loạt một sinh vật đã được tạo ra với những đặc điểm kinh tế quí giá và duy trì chúng qua nhiều thế hệ, đặc biệt đối với các sinh vật sinh sản hữu tính. Công nghệ nhân bản vô tính động vật được hoàn thiện chính là để thực hiện chức năng này.
Cuộc tranh luận rộng lớn và sâu sắc
Trong lịch sử khoa học, hiếm khi có một cuộc tranh luận kéo dài với qui mô toàn cầu, lớn và sâu sắc đến như vậy, về sự phát triển của bản thân một khoa học và những hưởng xã hội rộng khắp của nó như những vấn đề của công nghệ sinh học đương đại. Tất cả các phương tiện thông tin đại chúng, các nhà khoa học, các nhà xã hội học, các doanh nghiệp, người tiêu dùng và đặc biệt là người sản xuất nông nghiệp và các công ty dược phẩm đều bị cuốn hút. Cũng chưa bao giờ công luận xã hội lại có ảnh hưởng rõ rệt và cụ thể như thế đến tốc độ nghiên cứu và triển khai của một khoa học đang trong thời kỳ bùng nổ thông tin. Tốc độ nghiên cứu đã chậm hẳn lại ở  một số nước và  khu vực do chính phủ buộc phải cắt giảm kinh phí vì lo ngại dư luận xã hội phản đối . Tiến độ triển khai công nghệ mới cũng bị chững lại do các Công ty đề phòng bị thất thu không bán được sản phẩm công nghệ cao cho người tiêu dùng, thể hiện ở diện tích trồng trọt cây trồng chuyển gen đã bắt đầu giảm từ năm  2000.
Các quan điểm trái ngược nhau xoay quanh các vấn đề: Sự biến đổi di truyền các cây trồng có gây tai hại cho bản thân chúng về lâu dài? Thực phẩm sản xuất từ cây biến đổi gen có an toàn không, hậu quả sẽ như thế nào đối với con người nếu sử dụng lâu dài?  Cây trồng chuyển gen có làm giảm tính đa dạng sinh học, có tiêu diệt các côn trùng có lợi, có làm tăng cỏ dại? Có lường hết được các hậu quả của việc đưa cây trồng chuyển gen vào môi trường? Vấn đề ô nhiễm di truyền thì sao? những gen đã chuyển vào cây trồng, có thể chuyển sang người hay các động vật không? Về mặt đạo đức, việc chủ động biến đổi các sinh vật sống quanh ta là đúng hay sai?
Vấn đề đã đạt đến đỉnh điểm khi Tổ chức “Hoà bình xanh” yêu cầu ngừng ngay các nghiên cứu thao tác gen cho đến khi chứng minh được chắc chắn là nó hoàn toàn vô hại.
Liên hiệp quốc cũng đã phải ra tay chính thức từ năm 1995 bằng cách chi kinh phí  cho một loạt các cuộc hội nghị chuyên đề về sử dụng và chuyển giao an toàn các sinh vật chuyển gen và các sản phẩm từ chúng, và đã đạt được kết quả cụ thể vào đầu năm 2000 với việc soạn thảo, nhất trí và đã được 133 nước thông qua một văn bản chính thức gọi là Nghị định thư Cartagena về an toàn sinh học áp dụng cho toàn cầu.
Tất cả chỉ có hai “thủ phạm”
Xét cho cùng, nguyên do của các sự kiện trên, về mặt khoa học, bắt nguồn từ 2 công nghệ : công nghệ thao tác gen, còn gọi là kỹ thuật di truyền và công nghệ nhân bản vô tính động vật.
Công nghệ thao tác gen xuất hiện từ năm 1970 khi lần đầu tiên các nhà khoa học tìm ra enzym cắt phân tử ADN tại các điểm đặc thù, và cũng từ đó, người ta bắt đầu nói đến một cuộc cách mạng công nghệ sinh học mà ngày nay đang diễn ra trên qui mô toàn cầu. Thành tựu khoa học lớn và nổi bật gần đây nhất (được công bố tháng 2 năm 2001) đang thúc đẩy nhanh chóng tốc độ phát triển của lĩnh vực này trên đối tượng con người là việc kết thúc thành công Dự án giải trình tự hệ gen người. Công nghệ này chính là “thủ phạm” số 1 gây nên cuộc bút chiến toàn cầu với mức độ ngày càng khốc liệt như đã đề cập ở trên. Công nghệ nhân bản vô tính động vật xuất hiện với cừu Dolly nổi tiếng từ tháng 2 năm 1997. Tiếp đó, những phòng thí nghiệm khác nhau trên thế giới đã lần lượt nhân bản vô tính được bò, dê, lợn và chuột. Gần đây nhất, nhân dịp Noel 2002, chính Viện Roslin, nơi ra đời của Dolly, đã cho ra đời 5 con lợn nhân bản vô tính nhưng đã chuyển gen. Công nghệ này chính là “thủ phạm” số 2 của cuộc bút chiến nói trên.
Sức mạnh cộng hưởng của hai “kẻ vô tội”
DollyBản thân hai công nghệ trên hoàn toàn không có “tội lỗi” gì trong cuộc tranh luận toàn cầu kéo dài qua hai thế kỷ này. Ngược lại, chúng có công lớn, chúng là những công cụ hết sức hữu hiệu, sự kết tinh của nhiều thành tựu khoa học xuất sắc mà loài người đã tích tụ được trong suốt thế kỷ XX.
Nếu như công nghệ thao tác gen có chức năng chủ yếu là tạo ra các sinh vật mới thì nhược điểm của nó lại là rất khó khăn trong việc nhân bản hàng loạt một sinh vật đã được tạo ra với những đặc điểm kinh tế quí giá và duy trì chúng qua nhiều thế hệ, đặc biệt đối với các sinh vật sinh sản hữu tính, mà tất cả vật nuôi và nhiều cây trồng đều sinh sản hữu tính. Công nghệ nhân bản vô tính động vật được hoàn thiện chính là để thực hiện chức năng này. Vì vậy, ngành chăn nuôi đang đứng trước triển vọng được hưởng thụ những đàn gia súc lớn siêu chủng được tạo ra bằng công nghệ thao tác gen và được nhân bản hàng loạt bằng công nghệ nhân bản vô tính. Hiệu quả cộng hưởng của hai công nghệ này sẽ đưa lại những lợi ích hết sức to lớn cho loài người. Một thí dụ là thành công của các nhà khoa học thuộc Viện Hoàng gia Roslin vừa công bố trong dịp Noel 2002 trong việc tạo ra 5 con lợn nhân bản vô tính đã khử được yếu tố kháng miễn dịch bằng công nghệ thao tác gen, mở ra khả năng sử dụng phủ tạng của chúng để thay thế cho các bệnh nhân mắc bệnh cần thay thế.
Mười nghìn năm và hai mươi năm
Tiến sĩ Norman Borlaug, khi nhận Giải thưởng Nobel năm 1970, đã nhận xét “loài người phí mất 10 nghìn năm chọn tạo giống mới có được một nền sản xuất nông nghiệp ổn định cho 5 tỷ tấn lương thực mỗi năm”. Các giống cây trồng và vật nuôi lúc đó là kết quả của một quá trình thuần hoá lâu dài và chọn tạo giống kinh điển. Chúng được tạo ra bằng hai phương pháp chủ yếu : 1) Lai có định hướng (lai theo sơ đồ), và 2) Sử dụng các tác nhân đột biến vật lý và hoá học. Các giống chủng này mặc nhiên được coi là vô hại, mặc dù cả hai phương pháp nói trên đều đưa vào các giống chủng mới hàng trăm, thậm chí hàng nghìn gen mới (nguyên vẹn hoặc đã bị huỷ hoại do đột biến không định hướng) không hề qua kiểm tra (và cũng không thể kiểm tra được) có trước và sau khi sử dụng. Các giống cây trồng và vật nuôi đó cũng được coi là “tự nhiên”, mặc dù chúng chỉ có thể được nuôi trồng trong những không gian có sự chăm sóc thường xuyên của con người, không thể nuôi trồng ngoài thiên nhiên hoang dã.
Ngày nay, với công nghệ thao tác gen, người ta chỉ cần 20 năm để tăng gấp đôi sản lượng lương thực với chất lượng cao hơn rất nhiều. Bảng thống kê dưới đây là một số thành tựu đạt được tới năm 1999:
Diện tích trồng các cây chuyển gen và các đặc điểm
 Cây trồng
 Diện tích trồng năm 1999 (triệu ha)
 Đỗ tương
 21,4
 Ngô
 10,9
 Bông
 3,6
 Canola
 3,4
 Khoai tây
 <0,1
 Squash
 <0,1
 Đu đủ
 <0,1

 Đặc điểm
 Chịu thuốc diệt cỏ
 27,7
 Kháng sâu Bt
 8,8
 Kháng vi rút
 <0,1

Điều quan trọng ở đây là các sinh vật chuyển gen chỉ mang từ 1 đến một vài gen đưa từ ngoài vào, và các gen này đều được biết rất rõ cả về cấu trúc và chức năng của chúng trong tế bào.
Tự  nhiên hay nhân tạo
Người ta thường yêu cầu được biết trong thực phẩm họ ăn chứa các thành phần “tự nhiên” hay “nhân tạo”. Xin thưa, loại nấm mốc sinh ra các chất gây ung thư mọc rất tự nhiên trên các hạt lạc; virut Ebola gây chết người và nhiều vi khuẩn gây bệnh nhiễm trùng nặng là các sản phẩm điển hình của tự nhiên. Trong khi đó, cho đến nay và còn nhiều năm sau này gần như toàn bộ các công cụ và vật liệu dùng trong công nghệ thao tác gen là bắt nguồn từ tự nhiên. Tất cả các gen đưa vào một sinh vật nào đó được lấy ra từ một sinh vật khác, con người hiện nay chưa tự tạo ra các gen này. Thí dụ, gen diệt côn trùng Bt được lấy ra từ vi khuẩn diệt sâu rồi đưa vào cây bông để tạo ra cây bông không cần thuốc trừ sâu. Để lấy được gen Bt ra khỏi vi khuẩn người ta phải dùng một vài enzym để cắt, tổng hợp ADN như enzym cắt giới hạn, enzym ADN polymerase. Các enzym này cũng được lấy ra từ sinh vật sống là vi khuẩn. Để đưa gen Bt vào cây người ta cũng sử dụng các hiện tượng vốn diễn ra trong tự nhiên như biến nạp, tái nạp, hoặc thông qua một vi khuẩn khác như Agrobacterium. Có thể nói, toàn bộ khoa học và công nghệ thao tác gen hiện nay, tức phần lõi cốt của công nghệ sinh học hiện đại, là kết quả của quá trình nghiên cứu phân tích, tìm hiểu thiên nhiên, rồi gạn lọc, nhân lên và sử dụng các kết quả nghiên cứu đó để trở lại tạo ra các sinh vật chuyển gen hoặc ứng dụng các hiện tượng, cơ chế tự nhiên vào cuộc sống con người. Giả sử, nếu sau này khoa học tiến lên, con người có thể tự tổng hợp được gen hoàn toàn bằng con đường hoá học, thì thành phần và phương thức hoạt động của các gen đó vẫn phải dựa vào các nguyên lý và cơ chế của tự nhiên.
Bố ơi, trong đĩa ăn của con có gen không?
Câu hỏi này là của một cháu 14 tuổi, con gái tiến sĩ Maarten Chrispeels, giám đốc Trung tâm Nông nghiệp phân tử San Diego, tác giả bài viết “Thực phẩm từ cây trồng biến đổi di truyền”. Theo một thống kê, đó cũng là băn khoăn của 70% số người được hỏi cho rằng thức ăn bình thường không chứa gen! Thật ra, trong mỗi đĩa ăn thường có vài miếng thịt, một ít rau, cơm hoặc ngô, và tất nhiên thường có cả vi khuẩn, có lợi và có hại. Như vậy, trong mỗi đĩa chí ít cũng phải có hàng tỷ tế bào. Mỗi tế bào vi khuẩn có khoảng 2 nghìn gen, trong mỗi tế bào ngũ cốc trung bình chứa 25 nghìn gen. Tính trung bình trong mỗi đĩa ăn không có thực phẩm chuyển gen chứa hàng tỷ bản sao của 250 nghìn gen. Nếu chúng là thực phẩm chuyển gen thì cũng chỉ có thêm 10-15 gen và tất cả đều được tiêu hoá bình thường trong dịch tiêu hoá của chúng ta.
Hãy quẳng gánh lo đi mà vui sống
Đó là tên của cuốn sách cùng tác giả với cuốn “Đắc nhân tâm” nổi tiếng. Trong trường hợp các sinh vật chuyển gen, câu đó là một lời khuyên đúng lúc. Gánh lo về sự không an toàn của sinh vật chuyển gen là không có cơ sở khoa học. Kết cục cũng sẽ diễn ra như tình hình những năm đầu của thập kỷ 70, khi công nghệ thao tác gen mới phôi thai, khi một làn sóng phản đối và lo lắng về công nghệ này đã nhanh chóng lan truyền trên báo chí ở Mỹ và Châu Âu, khi mà nhiều hội nghị chuyên đề đã được triệu tập mà lịch sử còn để lại dấu ấn như Hội nghị Asilomar ở California tháng 2 năm 1975, và cuối cùng năm 1981, khi đã tích luỹ đủ số liệu và kinh nghiệm khoa học, người ta đã đi đến kết luận là công nghệ này không nguy hiểm như mọi người đã tưởng.
Tuy nhiên, nỗi lo đó hiện nay là dễ hiểu bới nhiều nguyên nhân: người tiêu dùng chưa quen với loại sản phẩm mới, thiếu những thông tin đáng tin cậy và cập nhật, lại luôn phải đối mặt với luồng thông tin âm tính thường xuyên đưa trên các phương tiện thông tin đại chúng, và do thiếu những hiểu biết chung về hệ thống sản xuất thực phẩm hiện đại. Cộng đồng các nhà khoa học thì chưa cung cấp kịp thời các thông tin cần thiết về các thực phẩm chuyển gen cũng như về giá trị đầy đủ của công nghệ này. Rõ ràng là sự chấp nhận của xã hội đóng vai trò trung tâm trong việc tiếp tục phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất thực phẩm và trong nông nghiệp.
Như vậy, nỗi lo không có cơ sở cần phải được “quẳng đi” để “vui sống” trong hy vọng lớn lao và hiện thực, dồn hết tâm  trí chuẩn bị tiềm năng nhân lực và vật lực để tiếp nhận và ứng dụng thành công những thành tựu khoa học công nghệ của nhân loại thế kỷ 21, phục vụ hiệu quả sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.
Việt Nam – lợi thế và thách thức
Công nghệ sinh học hiện đại là cơ hội cho các nước nghèo, đặc biệt là các nước nghèo có tiềm năng thiên nhiên lớn và có đội ngũ cán bộ khoa học có trình độ và đông đảo như nước ta. Là cơ hội vì nó tạo điều kiện cho ta đi tắt, vượt qua một số giai đoạn phát triển mà các nước đi trước phải trải qua trong nhiều năm, tiết kiệm cho ta nhiều tiền của và năm tháng mày mò. Một thí dụ là bản đồ hệ gen người và bản đồ hệ gen của nhiều cây trồng và vật nuôi chủ yếu của nông nghiệp đã được giải và được sử dụng rộng rãi và miễn phí.

Thuỷ quái kraken ! Bí ẩn dưới đáy đại dương

Một con thủy quái nguy hiểm đã bị phát hiện cách đây hàng trăm năm ở ngoài khơi vùng biển Kraken của nước Anh. Với các vòi dài hàng chục mét (!), nó đã quật ngã nhiều con tàu rồi lôi xuống đại dương. Chuyện là hư cấu dựa trên căn bản sự thật.

Từ thế kỷ 18, dân đi biển đã truyền tai nhau câu chuyện về nỗi kinh hoàng “kraken” – con quái vật xúc tu khổng lồ chuyên đánh chìm tàu bè trên biển. Những cuộc chiến ác liệt xảy ra giữa nó và cá nhà táng đã được nhiều cuốn sách miêu tả như cuộc chiến giữa các hải thần. Người ta thường gọi nó với cái tên: “quỷ đỏ”!

Tiến sĩ Steve O’Shea, chuyên gia nghiên cứu về cá mực nổi tiếng thế giới tại Đại học công nghệ Auckland (New Zeland), khẳng định: “Loài vật khổng lồ vốn được coi là “quỷ đỏ” ngoài đại dương ấy chính là những con mực thẻ phát triển dị thường. Điều này quả là đáng ngạc nhiên, nhưng trong môi trường rộng lớn và nhiều bí ẩn như biển cả thì mọi chuyện đều có thể xảy ra”.

Mô tả về mực khổng lồ đầu tiên xuất hiện từ 400 năm trước. Vào năm 1856, nhà khoa học Đan Mạch Japetus Streenstrup đã đặt tên cho con vật thân mềm dài hơn 13m mà ông từng thấy là mực khổng lồ. Thế nhưng các nhà nghiên cứu hiện đại lại không tin rằng mực có thể đạt tới kích thước như vậy. Bởi vì họ chỉ thường chứng kiến những con cá voi nặng nhiều tấn bị sóng gió đại dương ném lên bờ. Năm 1925, trên cơ sở nghiên cứu những mẩu cánh tay mực dị thường tìm thấy trong bụng của cá nhà táng, giới khoa học mới thừa nhận rằng, thực tế có loài mực có kích thước lớn hơn cả cá voi. Dấu tích của cái mỏ vĩ đại để lại trên lớp da cá nhà táng sau những cuộc quyết đấu là một bằng chứng thuyết phục về sự tồn tại của loài mực khổng lồ này. Tuy được mệnh danh là “quỷ đỏ” và dù được trang bị những chiếc mỏ lợi hại có thể xé toang vỏ những con tàu lớn nhất nhưng mực khổng lồ hiếm khi giành chiến thắng trước cá nhà táng.

Theo thống kê, trong 10 năm trở lại đây, mỗi năm có đến hàng chục con mực thẻ khổng lồ tình cờ mắc lưới hoặc bị chết dạt vào bờ biển. Xác của chúng đã được tìm thấy ở Thái Bình Dương bên bờ biển Califorlia (Mỹ), ở bắc Đại Tây Dương và Na Uy cũng như tại biển Ấn Độ phía Nam châu Phi, nơi những dòng thủy triều nhiệt đới gặp gỡ những dòng xoáy, tạo ra “vùng mỏ” thức ăn dành cho những hải sản khổng lồ. Đa phần chúng có trọng lượng khoảng 1 tấn và chiều dài khoảng 15m. Có con trọng lượng lên đến hàng chục tấn và đạt tới độ dài hơn 20m. Tính đến nay người ta đã thu được trên 300 sản phẩm dị thường như thế từ đại dương và kỷ lục thuộc về xác con mực nặng gần 25 tấn mà người ta thu được cách đây chưa lâu tại khu vực Tasmania. Hiện mực khổng lồ được xếp vào loại động vật không xương sống lớn nhất thế giới.

Mực khổng lồ có những chiếc mai mà kích thước dài hơn cả chiếc xe buýt. Vũ khí săn mồi của nó là 8 cánh tay và 2 xúc tu với 25 cái móc như những chiếc răng ăn sâu vào cơ thể quay tròn 360 độ, ngoài ra nó còn có những ống hút để bảo đảm con mồi không chạy thoát. Những cái móc như những cái mỏ cực sắc và có sức mạnh kỳ lạ không chỉ giúp con vật bắt mồi mà còn để phòng vệ khỏi những cuộc tấn công của cá nhà táng. Mắt của nó lớn nhất trong tất cả các loài vật. Đường kính thủy tinh thể lên tới 38cm, tương đương chiếc mũ bảo hiểm. Mực khổng lồ tìm kiếm thức ăn bằng cách tỏa sáng dưới nước để soi rọi con mồi. Thức ăn chủ yếu là các loại cá, ấu trùng cua biển và đồng loại yếu ớt hơn. Chúng thường sống ở độ sâu khoảng 1.000m và có thể lặn xuống độ sâu 6.500 feet (1.981,2m).

Hiện mực thẻ khổng lồ đang là đối tượng nghiên cứu độc đáo và có sức thu hút nhất trong đại dương. Bởi vì quanh chúng còn có quá nhiều điều bí hiểm chưa khám phá ra. Hầu như người ta không biết nhiều về chúng, bởi chưa nhà khoa học nào có cơ hội quan sát chúng trong cuộc sống tự nhiên. Các nhà khoa học mới chỉ biết chúng qua những mẫu vật lọt vào lưới đánh cá hoặc bị giạt lên bờ khi đã chết. Những máy quay phim tự động gắn trên thân cá nhà táng chỉ ghi được độc nhất hình bóng chuyển động của chúng. Nhiều nỗ lực khác nhằm quan sát chúng trong môi trường bản địa đều thất bại vì chúng thường ở mực nước quá sâu. “Chúng ta hiểu về khủng long – con vật khổng lồ của thời tiền sử còn nhiều hơn là loài mực quái dị – con vật khổng lồ thời nay” – TS. Clyde Roper, Bảo tàng Lịch sử tự nhiên quốc gia ở Washington khẳng định.

Các nhà động vật học tại Viện Bảo tàng khoa học quốc gia Nhật Bản sau nhiều năm theo đuổi việc nghiên cứu con vật bí ẩn nhất dưới lòng đại dương này, đến năm 2006 mới chụp được những hình ảnh đầu tiên về nó khi nó đang tấn công con mồi ở độ sâu 900m trong làn nước lạnh lẽo và tối tăm của phía Bắc Thái Bình Dương. Tuy nhiên, những hình ảnh đó quá ít ỏi so với những điều người ta muốn biết.

Mới đây, các nhà khoa học Tây Ban Nha đã quyết định đầu tư 1 triệu USD cho việc săn lùng hình ảnh tự nhiên về loài mực khổng lồ này. Các nhà khoa học sẽ mang theo một “chuyên gia lặn” bằng robot. Nó sẽ được thả xuống độ sâu 1.600m để quay phim và chụp ảnh. Tuy đã được tính toán kỹ lưỡng nhưng theo các chuyên gia, xác suất để robot gặp “quái vật” là khá nhỏ, bởi người ta chưa biết gì về thói quen sinh sống của chúng.

Theo số liệu của một tổ chức phi chính phủ nghiên cứu về thực phẩm và nông nghiệp thế giới, trong những năm qua, số lượng mực thẻ khổng lồ quái dị xuất hiện ngày càng nhiều trên các đại dương. Tổng trọng lượng của chúng ước tính đã nặng hơn cả trọng lượng của toàn nhân loại trên trái đất. “Những cái đầu có chân” đang dần dần chiếm lĩnh những vùng biển rộng lớn từng là lãnh địa của những loài sinh vật biển khổng lồ đã bị con người tiêu diệt nhiều như cá mập, cá voi, cá nhà táng...

Theo TS. Andrzei Koronkievicz – chuyên gia sinh học và đại dương học Ba Lan, người đã 25 năm nghiên cứu về mực thẻ khổng lồ thì đây là một sản phẩm dị thường được sinh ra từ sự biến đổi khí hậu của trái đất. Khí hậu ngày càng nóng dần, loài mực ngày càng có kích thước lớn hơn. Bình thường chúng sống ở vùng nước biển có nhiệt độ 7-10oC. Thế nhưng một khi nước ấm lên, quá trình trao đổi chất trong cơ thể chúng sẽ tăng tốc khiến cho cảm giác đói bụng xuất hiện sớm hơn và thúc đẩy chúng ăn nhiều hơn bình thường. Kết quả công trình nghiên cứu nhằm xác định tốc độ phát triển của cá mực do ông thực hiện cũng cho thấy: Trong điều kiện ngoài đại dương, nhiệt độ nước biển cứ tăng 1oC sẽ làm cho trọng lượng cá mực tăng gấp đôi. Để có chiều dài hơn 10m, mực thẻ chỉ cần khoảng 24 tháng! Mực cái mỗi năm đẻ một lần. Vào mùa sinh sản, trong điều kiện bình thường một con có thể đẻ đến vài ngàn trứng, buồng trứng có cấu tạo giống hình nải chuối, đường kính mỗi buồng lên tới 2m. Tuy vậy, nhiều nhà khoa học vẫn chưa chấp nhận cách giải thích này. Bí mật nào khiến loài mực trở thành khổng lồ vẫn là câu hỏi khiến giới nghiên cứu đau đầu

Đặc điểm sinh học của cá chim trắng nước ngọt

Email In PDF.

Cá chim trắng nước ngọt, có tên khoa học là Colossoma brachypomum, thuộc Bộ Characiformes, Họ Characidae. Trong khi đó cá hổ hay còn gọi là cá cọp hoặc cá Piranha có tên khoa học là Pygocentrus praya cũng thuộc bộ Characiformes, họ Characidae nhưng khác giống và khác loài. Cá cọp là loài cá dữ, ăn động vật, đã bị Bộ Thuỷ sản xác định là loài cá gây hại khi chúng được nhập lậu vào Việt Nam năm 1998 và đã bị nghiêm cấm nhập khẩu và gây nuôi.
Đặc điểm sinh học của cá chim trắng nước ngọtCá chim trắng nước ngọt được nhập vào Việt Nam từ năm 1998. Ðến năm 2000, việc cho sinh sản nhân tạo cá theo quy trình công nghệ sản xuất giống cá của Trung Quốc đã thành công. Cá sống trong môi trường nước có nhiệt độ từ 21 - 32 0C, nhưng thích hợp trong khoảng từ 28 - 30 0C. Cá chim trắng nước ngọt chịu nhiệt độ thấp tương đối kém, dưới 10oC có biểu hiện không bình thường và chết, lúc này cá giống rất dễ mắc bệnh trùng quả dưa, trùng bánh xe, nấm. Cá chim có thể sống bình thường ở độ mặn dưới 5 - 10, cá chết ở độ mặn 15. Cá có thể sống ở trong các thủy vực chật hẹp như ao, hồ, đầm. với độ pH từ 5,6 - 7,4. Cá có tập tính sống tập trung thành bầy đàn và di chuyển theo bầy.

Về đặc điểm hình thái, cá có đường kính mắt bằng 1/4,5 chiều dài đầu. Răng có hai hàm, hàm trên và hàm dưới. Hàm trên có hai hàng răng, hàng ngoài có 10 răng, hàm trong có 4 răng. Hàm dưới cũng có hai hàng răng, hàng ngoài có 14 răng với 6 răng lớn và 8 răng nhỏ, hàng trong có 2 răng. Mặt răng có dạng răng cưa. Số lược mang của cung mang thứ nhất: 30-36. Số vẩy đường bên: 81-98. Số vẩy trên đường bên: 31-33. Số vẩy dưới đường bên: 28-31. Tia vây không có gai cứng. Số vây lưng: 18-19. Số vây ngực: 14 (có 13 tia phân nhánh, 1 không phân nhánh). Số vây bụng: 8 (7 tia phân nhánh, 1 không phân nhánh). Số vây hậu môn: 26 (24 tia phân nhánh, 2 tia cứng không phân nhánh).

Các vây bụng và vây hậu môn của cá có màu đỏ. Vây đuôi có điểm vân đen ở diềm đuôi. Cá có khả năng biến đổi màu sắc theo môi trường sống. Dạ dày của cá tương đối to, có hình chữ U. Chiều dài của ruột bằng 2,5 chiều dài thân. Xung quanh ruột và nội tạng có nhiều mỡ.

Cá chim trắng nước ngọt là loài cá ăn tạp. Chúng có thể ăn các thức ăn có nguồn gốc thực vật, động vật như thực vật thủy sinh, tôm, cá con, các loài nhuyễn thể. Cá rất tích cực bắt mồi, nuốt rất nhanh. Thức ăn trong dạ dày của mẫu cá thu được trong ao chủ yếu là chất xơ thực vật, hạt ngũ cốc, lúa.
Theo 5f.biglobe.ne.jp

Thiếu động vật linh trưởng, tiến bộ y học bị kìm hãm

Thieu dong vat linh truong tien bo y hoc bi kim hamVượn và khỉ phục vụ mục đích nghiên cứu đang được gây giống với số lượng không đủ. Sự thiếu hụt này có thể kìm hãm những tiến bộ mang tính đột phá về các bệnh thần kinh, AIDS, tốc độ phát triển dược phẩm cũng như nghiên cứu gien.